Những khác biệt cơ bản giữa đào tạo trực tuyến mở đại trà và đào tạo truyền thống

MOOCs như tên gọi của nó, có ba đặc điểm cơ bản: (1) trực tuyến; (2) mở; và (3) đại trà. Mặc dù trường ĐH từ lâu đã áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong truyền thông vào việc dạy và học, về bản chất điều này vẫn khác với đào tạo trực tuyến mở đại trà. Các trường đã và đang áp dụng những công cụ và phương tiện trình chiếu ngày nay đã trở nên rất phổ biến, sử dụng các sản phẩm nghe nhìn làm tài liệu cho bài giảng,  giao tiếp qua thư điện tử, làm bài trắc nghiệm qua những phần mềm được tạo ra cho mục đích này, kiểm tra đạo văn qua những chương trình như Plagiarism Detector, v.v. Tuy những công nghệ đó đã khiến cho trọng tâm chuyển dần sang người học, vai trò kiểm soát quá trình vẫn là vai trò của người thầy.

Những khác biệt cơ bản giữa MOOCs và đào tạo truyền thống

Tác động của MOOCs đối với các trường ĐH Việt Nam

Tác động của MOOCs với các trường ĐH truyền thống

Những vấn đề liên quan đến MOOCs hiện tại

Điểm thứ nhất: Trực tuyến

Đối với MOOCs, vai trò kiểm soát quá trình học tập đã hoàn toàn chuyển sang tay người học. Đó là lý do mà tỉ lệ bỏ học của các khóa này rất cao. Nó đòi hỏi một văn hóa tự học, khả năng và kỹ năng tự học, và một động lực đủ mạnh của người học để duy trì việc học và đạt đến hiệu quả. Điều này đặc biệt đáng lưu ý ở Việt Nam, nơi mà động lực học vì bằng cấp và học dưới áp lực của việc làm bài kiểm tra là rất nổi bật.

Bởi vì việc kiểm soát quá trình học đã được chuyển sang tay người học, MOOCs tạo ra những lợi thế mà nhà trường truyền thống không có: nó cho phép người học cá nhân hóa việc học đến mức tối đa. Trong lúc lối dạy của nhà trường truyền thống là “one size fit for all” (một cỡ cho tất cả mọi người) thì MOOCs cho phép người học chọn môn học, học theo nhịp điệu tiếp thu của riêng mình, dừng lại, học lại, hay tiếp tục bất cứ lúc nào.

Mặc dù tương tác trực tiếp với người dạy giảm xuống gần như bằng không, MOOCs mang lại một bù đắp khác, là người học có thể được học với những người thầy lỗi lạc mà những hiểu biết, phẩm chất và kỹ năng của họ không nhiều người có. Điều này cũng đặc biệt có ý nghĩa với Việt Nam, khi số lượng sinh viên tăng gấp 17 lần, còn số lượng giảng viên chỉ tăng khoảng 3 lần trong vòng hai thập kỷ qua. Hiện nay chỉ 14% giảng viên có bằng tiến sĩ, và trong số 8.869 người có bằng tiến sĩ trong hệ thống GDĐH, có bao nhiêu người thực sự đạt trình độ tiến sĩ theo các chuẩn mực quốc tế, còn là câu hỏi chưa có lời đáp, và là điều đến nay chúng ta vẫn chưa có số liệu tin cậy để trả lời.

Đặc điểm thứ hai là “mở”.

Trước khi MOOCs xuất hiện, đã có các khóa học trực tuyến nhằm vào sinh viên có đóng học phí và được cấp tín chỉ, chẳng hạn chương trình đào tạo trực tuyến cấp bằng MBA về chăm sóc sức khỏe của trường George Washington University[1], mức học phí không thua kém gì so với đến trường học trực tiếp theo lối truyền thống. Howard University cũng phối hợp với trung tâm khảo thí Peason để đưa ra những chương trình đào tạo có đánh giá và cấp bằng tương tự. Nhưng MOOCs, theo định nghĩa của nó, mở ra miễn phí cho bất cứ ai muốn học. Người học của nó có thể đủ mọi lứa tuổi, có thể là người đang hành nghề chuyên môn, sinh viên, giảng viên các trường ĐH, học sinh trung học, người về hưu.

Thực hiện bài giảng cho một đối tượng đa dạng như thế quả là một khó khăn. Do giảng bài trong bối cảnh không có tương tác với người học, cách dạy của MOOCs cũng khác, nó đòi hỏi người dạy những kỹ năng cần phải rèn luyện.

Điều quan trọng là, tính chất mở của MOOCs đã phá tan những biên giới và rào cản của trường ĐH truyền thống. Thi tuyển sinh, học phí, chi phí ăn ở để theo học ĐH là những rào cản với nhiều người, nhất là ở những nước đang phát triển và khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư khá xa như ở Việt Nam. MOOCs đã khiến cho ai cũng có thể tiếp cận với những tri thức bậc cao, bất kể điều kiện kinh tế gia đình hay khoảng cách địa lý. Chỉ cần một máy tính nối mạng, với chi phí hiện nay đã xuống rất thấp, ai cũng có thể theo học MOOCs.

Đặc điểm thứ ba là “đại trà”.

Vì mở và miễn phí, nó có thể thu hút hàng trăm ngàn người đăng ký học. Con số hàng trăm ngàn là một con số rất có ý nghĩa. Người đồng sáng lập Coursera là Andrew Ng đã cho biết là, khối lượng dữ liệu về giáo dục mà MOOC thu thập trong vòng một năm nhiều hơn dữ liệu của tất cả các trường ĐH từng có trong lịch sử nhân loại[2]. Coursera hiện đang có 4 triệu sinh viên. Đặc điểm này cũng rất có ý nghĩa với Việt Nam, khi nhiều nghiên cứu đã cho thấy khoảng cách khá lớn giữa kỹ năng của người lao động và nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế[3] trong lúc chất lượng đào tạo của GDĐH chưa thể có chuyển biến đáng kể trong thời gian ngắn.